Nhà Chu (; thế kỷ 11 TCN đến 256 TCN) nối tiếp sau nhà Thương và trước nhà Tần ở Trung Quốc. Nhà Chu tồn tại lâu hơn bất cứ một triều đại nào khác trong lịch sử Trung Quốc, và việc sử dụng đồ sắt cũng đã xuất hiện ở Trung Quốc trong thời kỳ này. Nhà Chu cũng là khoảng thời gian khi hệ thống chữ viết cổ xuất hiện trên các đỉnh đồng thời Tây Chu bắt đầu chuyển sang giai đoạn hiện đại, dưới hình thức những văn bản ghi chép cổ cuối Thời chiến quốc.
Nhà Chu khởi nguồn ở sông Vị (Wei), phía tây nền văn minh Thương và họ cầm đầu một liên minh gồm các bộ lạc gần nền văn minh Thương. Khi vị vua Thương, Zhouxin bị bắt giữ trong một cuộc chiến chống lại ông ta ở phía đông nam, những kẻ nổi loạn dấy lên từ những bộ tộc mà nhà Thương đã chinh phục trước đó. Nhà Chu và đồng minh coi việc rối loạn này của nhà Thương là một cơ hội để chống lại họ, và vào năm 1045 trước Công Nguyên họ chiến thắng vua nhà Thương trong trận chiến Mục Dã (Mu-ye) và chặt đầu ông ta. Một vương triều Nhà nhà Chu bắt đầu cai trị ở vùng đất trước đó thuộc nền văn minh Thương.
Nhà Chu coi tất cả đất đai thuộc về thần thánh, và họ là những đứa con của thần thánh vì vậy tất cả đất đai và dân cư đều thuộc về họ. Thấy rằng đất đai mình chinh phục được quá rộng lớn để một người có thể cai trị, các vua nhà Chu đã chia đất đai thành những vùng và chỉ định một người nào đó để cai trị vùng đó dưới danh nghĩa của mình (chư hầu), lựa chọn một người thân trong họ, một người có thể tin tưởng trong bè cánh, hay vị thủ lĩnh một bộ lạc đã cùng họ chống lại nhà Thương. Mỗi vị thủ lĩnh địa phương có quyền sắp đặt mọi vùng đất quanh mình. Có lực lượng dân phòng riêng. Và Nhà nhà Chu ban cho họ những quà tặng như xe ngựa, vũ khí bằng đồng, người hầu và súc vật. Những vị chỉ huy địa phương cũng được nhận tước vương (lord - gong). Những vị vua địa phương này truyền ngôi cho con trai mình và tước vương của họ là cha truyền con nối. Và để cai trị vùng đất của mình tốt hơn, vị vương hầu đó lại phong những tước nhỏ hơn cho những người đã từng cầm đầu các nhóm dân ở nơi đó trước khi họ đến. Một hệ thống thứ bậc địa vị và trách nhiệm xuất hiện giữa và bên trong các gia đình, với việc anh lớn thì có quyền cao hơn em, với quy tắc kế tục theo đó những người đàn ông sẽ làm chủ gia đình. Nếu một người quý tộc đã có gia đình mà lại thích một người đàn bà khác, thay vì đuổi vợ khỏi nhà, ông ta có thể đưa người đàn bà kia vào trong gia đình với tư cách vợ lẽ, với cấp bậc thấp hơn vợ mình.
Nhà nhà Chu nói với những người bị mình chinh phục rằng nhà Chu đã đuổi tiền nhân các vua nhà Thương khỏi thiên đường và thiên đường đã bị vị thần tối cao của họ chiếm, vị thần mà họ gọi là “Thượng đế”, người, theo họ nói, đã ra lệnh cho sự sụp đổ của nhà Thương. Giống như ở vùng Tây Á, các vua Chu tuyên bố rằng họ cai trị bằng quyền lực thần thánh. Họ cho rằng họ là hiện thân trên mặt đất của “Thượng đế” và nhiệm vụ của họ là làm trung gian với Thượng đế, để thực hiện các cuộc hiến tế thích đáng và giữ gìn quan hệ tốt giữa thiên đường và thần dân của họ. Họ tuyên bố rằng bất kỳ một sự chống đối nào với sự cai trị của họ là chống đối lại ý muốn của trời. Bắt đầu từ thời các vua nhà Chu các vị thủ lĩnh địa phương nhận được quyền hành động như các thầy tế: để thực hiện hiến tế, để cho phép hát một số loại bài hát và một số điệu nhảy, quyền cúng tế các vị thần núi sông ở địa phương, các dòng suối và đất và mùa màng. Tuy nhiên, các quý tộc địa phương tiếp tục đi theo di sản của ông cha để lại. Họ lấy vợ bằng những nghi thức tôn giáo và sự ủng hộ trong khi người dân thường vẫn tiếp tục không có kiểu lấy vợ như vậy, không có họ hay có gia phả. Họ chỉ đơn giản sống với nhau và được công nhận là một cặp bởi những người hàng xóm. Giống như ở Ấn Độ và Tây Á, cùng với thời gian có một sự pha trộn giữa các tôn giáo của kẻ chinh phục và kẻ bị chinh phục. Những vị cai trị nhà Chu chấp nhận vào danh sách thần thánh của mình một số vị thần của nền văn minh Thương. Sự cúng tế nhiều vị thần từ thời nhà Thương vẫn được tiếp tục, gồm cả vị thần mùa màng, mưa và nông nghiệp - một trong những vị thần này được tin rằng được sinh ra từ một bà mẹ trinh trắng. Trong số các vị thần đó có vị thần sông Hoàng Hà, người có thân cá nhưng có mặt người. Trong nền văn minh Chu, con người tiếp tục cố gắng làm dịu các vị thần bằng cách cúng tế. Những người có khả năng thì hiến tế bằng gia súc, cừu, lợn hay ngựa. Việc hiến tế bằng người giảm bớt so với thời nhà Thương, nhưng Nhà nhà Chu có cả vợ và bạn bè ở trong mộ, và mỗi năm một cô gái trẻ bị cúng làm cô dâu cho thần sông. Việc hiến tế này bắt đầu bằng việc những bà đồng cốt lựa chọn một cô gái đẹp nhất có thể. Mặc cho cô ta đồ satin, tơ và đeo trang sức và đặt lên một cái giường cưới trên một cái bè. Họ tống cái bè xuống sông. Cái bè sẽ chìm và cô gái chết đuối, coi như là một đồ hiến tế cho thế giới vô hình của vị thần sông.
| Tên riêng | Tên thuỵ | Số năm cai trị1 | Tên phổ biến nhất |
|---|---|---|---|
| Ji Fa 姬發 | Vũ Vương 武王 | 1046 TCN-1043 TCN1 | Chu Vũ Vương |
| Cơ Tụng 姬誦 | Thành Vương 成王 | 1042 TCN-1021 TCN1 | King Cheng of Zhou |
| Cơ ??? (Zhao) 姬釗 | Khang Vương 康王 | 1020 TCN-996 TCN1 | Chu Khang Vương |
| Cơ Hà 姬瑕 | Chiêu Vương 昭王 | 995 TCN-977 TCN1 | Chu Chiêu Vương |
| Cơ Mãn 姬滿 | Mục Vương 穆王 | 976 TCN-922 TCN1 | Chu Mục Vương |
| Cơ Ê Hỗ 姬繄扈 | Cung Vương 共王 | 922 TCN-900 TCN1 | Chu Cung Vương |
| Cơ ??? (Jian) 姬囏 | Ý Vương 懿王 | 899 TCN-892 TCN1 | Chu Ý Vương |
| Cơ Tích Phương 姬辟方 | Hiếu Vương 孝王 | 891 TCN-886 TCN1 | Chu Hiếu Vương |
| Cơ Tiếp 姬燮 | Di Vương 夷王 | 885 TCN-878 TCN1 | Chu Di Vương |
| Cơ Hồ 姬胡 | Lệ Vương 厲王 | 877 TCN-841 TCN1 | Chu Lệ Vương |
| Cung Hoà (nhiếp chính) 共和 | 841 TCN-828 TCN | Cung Hoà | |
| Cơ Tĩnh 姬靜 | Tuyên Vương 宣王 | 827 TCN-782 TCN | Chu Tuyên Vương |
| Cơ Cung ??? 姬宮湦 | U Vương 幽王 | 781 TCN-771 TCN | Chu U Vương |
| Kết thúc Tây Chu / Bắt đầu Đông Chu | |||
| Cơ Nghi Cữu 姬宜臼 | Bình Vương 平王 | 770 TCN-720 TCN | Chu Bình Vương |
| Cơ Lâm 姬林 | Hoàn Vương 桓王 | 719 TCN-697 TCN | Chu Hoàn Vương |
| Cơ Đà 姬佗 | Trang Vương 莊王 | 696 TCN-682 TCN | Chu Trang Vương |
| Cơ Hồ Tề 姬胡齊 | Ly Vương 釐王 | 681 TCN-677 TCN | Chu Ly Vương |
| Cơ Lang 姬閬 | Huệ Vương 惠王 | 676 TCN-652 TCN | Chu Huệ Vương |
| Cơ Trịnh 姬鄭 | Tương Vương 襄王 | 651 TCN-619 TCN | Chu Tương Vương |
| Cơ Nhâm Thần 姬壬臣 | Khoảnh Vương 頃王 | 618 TCN-613 TCN | Chu Khoảnh Vương |
| Cơ Ban 姬班 | Khuông Vương 匡王 | 612 TCN-607 TCN | Chu Khuông Vương |
| Cơ Du 姬瑜 | Định Vương 定王 | 606 TCN-586 TCN | Chu Định Vương |
| Cơ Di 姬夷 | Giản Vương 簡王 | 585 TCN-572 TCN | Chu Giản Vương |
| Cơ Duệ Tâm 姬泄心 | Lingwang 靈王 | 571 TCN-545 TCN | Chu Linh Vương |
| Cơ Quý 姬貴 | Cảnh Vương 景王 | 544 TCN-521 TCN | Chu Cảnh Vương |
| Cơ Mãnh 姬猛 | Điệu Vương 悼王 | 520 TCN | Chu Điệu Vương |
| Cơ Cái 姬丐 | Kính Vương 敬王 | 519 TCN-476 TCN | Chu Kính Vương |
| Cơ Nhân 姬仁 | Nguyên Vương 元王 | 475 TCN-469 TCN | Chu Nguyên Vương |
| Cơ Giới 姬介 | Trinh Định Vương 貞定王 | 468 TCN-442 TCN | Chu Trinh Định |
| Cơ Khứ Tật 姬去疾 | Ai Vương 哀王 | 441 TCN | Chu Ai Vương |
| Cơ Thúc 姬叔 | Tư Vương 思王 | 441 TCN | Chu Tư Vương |
| Cơ Ngôi 姬嵬 | Khảo Vương 考王 | 440 TCN-426 TCN | Chu Khảo Vương |
| Cơ Ngọ 姬午 | Uy Liệt Vương 威烈王 | 425 TCN-402 TCN | Chu Uy Liệt |
| Cơ Kiêu 姬驕 | An Vương 安王 | 401 TCN-376 TCN | Chu An Vương |
| Cơ Hỉ 姬喜 | Liệt Vương 烈王 | 375 TCN-369 TCN | Chu Liệt Vương |
| Cơ Biển 姬扁 | Hiển Vương 顯王 | 368 TCN-321 TCN | Chu Hiển Vương |
| Cơ Định 姬定 | Thận Tịnh Vương 慎靚王 | 320 TCN-315 TCN | Chu Thận Tịnh |
| Cơ Duyên 姬延 | Noãn Vương 赧王 | 314 TCN-256 TCN | Chu Noãn Vương |
| Huệ Vương 惠王 | 255 TCN-249 TCN | Chu Huệ Vương) | |
| 1 Niên đại bắt đầu lịch sử Trung Quốc được chấp nhận chung là năm 841 TCN, khởi đầu thời nhiếp chính Cung Hoà. Tất cả niên đại trước đó đều còn gây nhiều tranh cãi. Những niên đại ở đây lấy theo Dự án Biên niên Hạ-Thương-Chu, của các học giả do chính phủ Trung Quốc tài trợ và hoàn thành năm 2000. Chúng chỉ có tính tham khảo. | |||
| 2 Các quý tộc dòng họ Cơ cho rằng Huệ Vương là người kế vị Noãn Vương sau khi thủ đô, Lạc Dương, bị các lực lượng Tần chiếm năm 256 TCN. Tuy nhiên cuộc kháng chiến của nhà Chu không kéo dài vì thế số đông cho rằng Noãn Vương là hoàng đế cuối cùng nhà Chu. | |||
Dinasti Zhou | Zhou-Dynastie | Zhou Dynasty | Dinastía Zhou | Dinastio Zhou | Dynastie Zhou | 주나라 | Džou dinastija | Zhou-dynastie | 周 | Zhou-dynastiet | Dinastia Zhou | Zhou-dynastia | Zhoudynastin | 周朝