Còn có nhiều định nghĩa khác về axít-bazơ có tính tổng quát hóa và tân tiến hơn.
Độ pH của nước (không nguyên chất) được đo bởi độ axít của nó. Trong nước nguyên chất, khoảng 1/10 000 000 các phân tử phân ly thành các ion hiđrô (H+) và hiđrôxít (OH−), tuân theo phương trình sau:
Chính xác hơn thì là:
Nồng độ (tính theo mol/lit) của các ion được biểu diễn như là và hằng số điện li của nước và có giá trị 10−14 mol2l−2. Độ pH được định nghĩa như là −log [H+" target="_blank" >*; vì thế nước nguyên chất có pH bằng 7. (Các giá trị này đúng ở nhiệt độ 23 °C và sai khác một chút ở các nhiệt độ khác.)
Bazơ nhận (loại bỏ) các ion hiđrô (H+) từ dung dịch, hoặc là cung cấp các ion hiđrôxít (OH−) cho dung dịch. Cả hai hoạt động này đều làm giảm nồng độ của các ion hiđrô, và vì thế làm tăng pH. Ngược lại, một axít cung cấp thêm các ion H+ cho dung dịch hay nhận các ion OH−, vì thế làm giảm pH.
Độ pH của dung dịch có thể tính toán được. Ví dụ, nếu 1 mol của hiđrôxít natri (40 g) được hòa tan trong 1 lít nước, nồng độ của các ion hiđrôxít là Vì vậy [H+ = 10−14 mol/l, và pH = −log 10−14 = 14.
Khi hòa tan trong nước, NaOH phân ly thành các ion hiđrôxít và natri:
tương tự, axít clohiđric (HCl) tạo ra các ion hiđrôni và clorua:
Khi hai dung dịch này được trộn với nhau, các ion H+ và OH− tổ hợp với nhau tạo ra các phân tử nước:
Nếu các lượng bằng nhau của NaOH và HCl (đo theo mol, không phải tính theo gam) được hòa tan cùng nhau, bazơ và axít trung hòa nhau một cách chính xác, giải phóng ra NaCl (muối ăn) trong dung dịch.
Cả cacbonat natri và amôniắc đều là các bazơ, mặc dù không có chất nào chứa nhóm OH−. Có điều này bởi vì cả hai hợp chất đều nhận các ion H+ khi hòa tan trong nước:
và:
Base química | Base (Chemie) | Alus (keemia) | Base (chemistry) | Base (química) | Base (chimie) | 염기 | Bazo | בסיס (כימיה) | Alkalium | Base | Base | Base | Base | Zasada | Base (química) | Основание (химия) | Baza (kemija) | База | เบส (เคมี) | 碱